Page 1 of 13

1/50

Phần I. ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Lí do chọn đề tài

Theo tinh thần của Nghị Quyết số 29 – NQ/TW của Ban chấp hành Trung

ương Đảng về việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đó là

“...Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển

toàn diện năng lực và phẩm chất của người học”.

Trong những năm gần đây, chương trình giáo dục định hướng phát triển

năng lực nay còn gọi là dạy học định hướng kết quả đầu ra được bàn đến và đã trở

thành xu hướng chung của toàn ngành giáo dục. Giáo dục định hướng phát triển

năng lực nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học. Phương pháp dạy học theo

quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tích cực hóa học sinh về mặt trí tuệ

mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của

cuộc sống và nghề nghiệp. Đây là một yếu tố quan trọng giúp cho học sinh hình

thành được những kĩ năng sống cơ bản và cần thiết để xử lý được những tình

huống đặt ra trong cuộc sống hàng ngày.

Trường THPT Mường Quạ đứng chân trên địa bàn xã Môn Sơn huyện Con

Cuông, tuyển sinh ở hai xã Môn Sơn và Lục Dạ, là một trong hai trường THPT

trên địa bàn tỉnh Nghệ An có học sinh dân tộc ít người Đan Lai. Với đặc thù của

đồng bào là sống ở vùng lõi của vườn Quốc gia Pù Mát (thuộc huyện Con Cuông,

tỉnh Nghệ An), giao thông đi lại không thuận tiện, đời sống kinh tế khó khăn, điều

kiện giao lưu, tiếp xúc với vùng phát triển còn nhiều hạn chế, do đó phần lớn con

em của đồng bào nơi đây ít được đi học hoặc nếu đi học thì cũng chỉ học hết cấp 1

hoặc cấp 2 là lập gia đình.

Năm 2006, thực hiện Đề án của Chính phủ về bảo tồn, phát triển bền vững

dân tộc Đan Lai tại vùng lõi Vườn quốc gia Pù Mát, đời sống kinh tế của đồng bào

có nhiều chuyển biến tích cực, công tác giáo dục được đẩy mạnh. Từ đó đến nay đã

có hàng chục em tốt nghiệp THPT. Tuy nhiên, trong những năm qua một thực

trạng chung của các em học sinh Đan Lai là chưa mạnh dạn trong giao tiếp, khả

năng tự học, tự làm việc chưa cao và nhận thức việc học là chỉ để có bằng tốt

nghiệp. Qua nhiều năm công tác tại trường, chúng tôi nhận thấy việc giáo dục các

em học sinh Đan Lai nhận thức đúng đắn việc học tập, giúp các em biết ước mơ và

vươn mình trong xã hội hiện đại là một nhiệm vụ quan trọng và cũng rất cấp thiết,

vì vậy chúng tôi chọn đề tài “PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC, GIAO TIẾP VÀ

ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CHO HỌC SINH DÂN TỘC ĐAN LAI Ở

TRƯỜNG THPT MƯỜNG QUẠ THÔNG QUA CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM” để

nghiên cứu.

2. Mục đích nghiên cứu

Tiến hành thực hiện đề tài này, chúng tôi mong muốn sẽ hiểu biết nhiều hơn

đời sống tâm lí của học sinh Đan Lai; nắm bắt được những nguyện vọng, hiểu

được những khó khăn mà các em gặp phải trong quá trình học tập để có những giải

Page 2 of 13

2/50

pháp kịp thời nhằm điều chỉnh, động viên, giúp đỡ và giáo dục các em. Thông qua

công tác chủ nhiệm, học sinh sẽ dần hình thành và phát triển được năng lực tự học,

giao tiếp và định hướng nghề nghiệp chohọc sinh Đan Lai.

3. Nhiệm vụ nghiên cứu

Tìm hiểu và phân tích thực trạng công tác chủ nhiệm trong việc giáo dục kĩ

năng sống, phát triển năng lực tự học cho học sinh, năng lực giao tiếp và định

hướng nghề nghiệp từ đó rút ra bài học kinh nghiệm, đề xuất cải tiến để qua đó

phát triển các kĩ năng này thông qua các hoạt động của công tác chủ nhiệm.

4. Đối tượng nghiên cứu

- Công tác chủ nhiệm của giáo viên THPT

- Năng lực tự học, năng lực giao tiếp và định hướng nghề nghiệp cho học

sinh Đan Lai trường THPT Mường Quạ.

5. Phạm vi nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và về năng lực tự học, năng lực giao tiếp và định

hướng nghề nghiệp cho học sinh THPT.

- Thiết kế, tổ chức hoạt động chủ nhiệm ở trường THPT Mường Quạ

- Quá trình nghiên cứu, thử nghiệm diễn ra trong năm học 2021 – 2022.

6. Phương pháp nghiên cứu

6.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu:

+ Nghiên cứu lí thuyết về năng lực tự học, năng lực giao tiếp và định hướng

nghề nghiệp để tìm ra cơ sở lí luận cho đề tài

+ Nghiên cứu lí thuyết về phương pháp, các hình thức tổ chức hướng dẫn

học sinh tự học, định hướng nghề nghiệp, tổ chức giờ sinh hoạt lớp, hoạt động

ngoài giờ lên lớp.

6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát: Quan sát việc tổ chức các hoạt động giáo dục kĩ

năng sống, hướng dẫn học sinh tự học của GVCN và các tổ chức khác ở nhà

trường THPT Mường Quạ, các phương pháp tổ chức được sử dụng nhằm phục vụ

cho đề tài.

- Phương pháp phỏng vấn: Trao đổi tìm hiểu những khó khăn từ phía giáo

viên trong việc tổ chức một giờ sinh hoạt lớp, một giờ hoạt động giáo dục kĩ năng

sống và hướng dẫn học sinh tự học; thái độ, hứng thú của học sinh đối với hoạt

động đó; những mong muốn mà giáo viên và học sinh đạt được sau khi kết thúc

buổi hoạt động.

Page 3 of 13

3/50

- Phương pháp thực nghiệm: Tổ chức tiến hành thực nghiệm theo hướng

phát triển tự học, năng lực giao tiếp cho học sinh.

7. Dự kiến đóng góp của đề tài

- Tính mới: Đề tài đã đưa ra các giải pháp phát triển năng lực tự học, giao

tiếp cho đối tượng học sinh dân tộc Đan Lai thông qua các hoạt động công tác chủ

nhiệm của giáo viên.

- Tính hiệu quả: Đề tài đã khắc phục được tình trạng học sinh chán học dẫn

đến lười học; học tập không có mục tiêu; chán thậm chí là sợ tiết sinh hoạt lớp cuối

tuần. Thay vào đó học sinh có hứng thú và tham gia tích cực các hoạt động của

buổi sinh hoạt lớp, có ý thức tự giác trong học tập và xác định đúng đắn mục tiêu

cho bản thân sau này.

Phần II. NỘI DUNG

I. CƠ SỞ LÍ LUẬN

1. Khái niệm năng lực và định hướng nghề nghiệp

a) Năng lực tự học:

Nhà tâm lí học N.A.Rubakin xem quá trình tự tìm lấy kiến thức có nghĩa là

tự học. Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội, lịch sử trong thực

tiễn hoạt động cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan hệ cải tiến kinh nghiệm

ban đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của

loài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng, k xảo của chủ thể.

Theo Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức: “Tn học là m t hình thúc nh n thúc

của cá nhân, nham nam vũng hệ thong tri thúc và kĩ nǎng do chính ngwời học tn

tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo chwơng trình và sách

giáo khoa đã đwợc qui định”.

Tự học thể hiện bằng cách tự đọc tài liệu giáo khoa, sách báo các loại, nghe

radio, truyền hình, nghe nói chuyện, báo cáo, tham quan bảo tàng, triển lãm, xem

phim, kịch, giao tiếp với những người có học, với các chuyên gia và những người

hoạt động thực tiễn trong các lĩnh vực khác nhau. Người tự học phải biết cách lựa

chọn tài liệu, tìm ra những điểm chính, điểm quan trọng trong các tài liệu đã đọc,

đã nghe, phải biết cách ghi ch p những điều cần thiết, biết viết tóm tắt và làm đề

cương, biết cách tra cứu từ điển và sách tham khảo, biết cách làm việc trong thư

viện,... tự học đòi hỏi phải có tính độc lập, tự chủ, tự giác và kiên trì cao.

Tự học là một giải pháp khoa học giúp giải quyết mâu thuẫn giữa khối lượng

kiến thức đồ sộ với qu thời gian không nhiều khi học ở nhà trường. Tự học giúp

tạo ra tri thức bền vững cho m i người bởi lẽ nó là kết quả của sự hứng thú, sự tìm

tòi, nghiên cứu và lựa chọn.

b) Năng lực giao tiếp

* Khái niệm:

Page 4 of 13

4/50

Giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin, tiếp xúc tâm lí, hiểu biết giữa

người nói với người nghe nhằm đạt mục đích mong muốn là quá trình giao tiếp.

Giao tiếp tạo ra ấn tượng, cảm xúc giữa các chủ thể. Qua giao tiếp, ý tưởng trở

thành đối tượng phản ánh, sàng lọc, thảo luận, sửa đổi, giúp xây dựng ý nghĩa lâu

dài cho các ý tưởng và làm cho chúng ta trở nên công khai. Giao tiếp giúp học sinh

suy nghĩ để trình bày kết quả của mình đến người khác một cách rõ ràng và thuyết

phục. Trong quá trình giao tiếp, các ý tưởng cũng được đánh giá, xem x t từ nhiều

góc nhìn giúp con người nhận thưc vấn đề sâu sắc hơn. Đồng thời quá trình giao

tiếp cũng tạo ra sự tương tác, kết nối về mặt cảm xúc tình cảm. Học sinh ngày nay

có thể giao tiếp rõ ràng thể hiện ở các khía cạnh:

+ “Nói” rõ ra suy nghĩ và ý tưởng một cách hiệu quả thông qua các kĩ năng

giao tiếp bằng lời, bằng văn bản và phi ngôn ngữ trong nhiều hình thức và bối cảnh

khác nhau;

+ Nghe hiểu quả để giải mã ý nghĩa, bao gồm kiến thức, giá trị, thái độ và ý

định;

+ Sử dụng giao tiếp cho nhiều mục đích ( ví dụ: để thông báo, hướng dẫn,

thúc đẩy và thuyết phục);

+ Sử dụng truyền thông đa phương tiện và công nghệ, biết cách đánh giá

tiên nghiệm tính hiệu quả cũng như đánh giá tác động của chúng;

+ Giao tiếp hiệu quả trong các môi trường đa dạng (kể cả đa ngôn ngữ)

* Những biểu hiện của năng lực giao tiếp:

- Xác định mục đích, nội dung, phương tiện và thái độ giao tiếp:

+ Xác định được mục đích giao tiếp phù hợp với đối tượng và ngữ cảnh giao

tiếp; dự kiến được thuận lợi, khó khăn để đạt được mục đích trong giao tiếp.

+ Biết lựa chọn nội dung, kiểu loại văn bản, ngôn ngữ và các phương tiện

giao tiếp khác phù hợp với ngữ cảnh và đối tượng giao tiếp.

+ Tiếp nhận được các văn bản về những vấn đề khoa học, nghệ thuật phù

hợp với khả năng và định hướng nghề nghiệp của bản thân, có sử dụng ngôn ngữ

kết hợp với các loại phương tiện phi ngôn ngữ đa dạng.

+ Biết sử dụng sử dụng ngôn ngữ kết hợp với các loại phương tiện phi ngôn

ngữ đa dạng để trình bày thông tin, ý tưởng và để thảo luận, lập luận, đánh giá về

các vấn đề trong khoa học, nghệ thuật phù hợp với khả năng và định hướng nghề

nghiệp.

+ Biết chủ động trong giao tiếp; tự tin và biết kiểm soát cảm xúc, thái độ khi

nói trước nhiều người.

- Thiết lập, phát triển các quan hệ xã hội; điều chỉnh và hoá giải các mâu

thuẫn

Page 5 of 13

5/50

+ Nhận biết và thấu cảm được suy nghĩ, tình cảm, thái độ của người khác.

+ Xác định đúng nguyên nhân mâu thuẫn giữa bản thân với người khác hoặc

giữa những người khác với nhau và biết cách hoá giải mâu thuẫn.

c) Định hướng nghề nghiệp là gì?

Định hướng nghề nghiệp là tổng hợp những việc giúp học sinh xác định được

mục tiêu nghề nghiệp trong tương lai. Việc lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai

rất quan trọng ảnh hưởng đến sự thành công hay thất bại của m i người. Nếu định

hướng sai nghề nghiệp sẽ gây ra rất nhiều khó khăn bất lợi cũng như sẽ khiến bạn

mãi lạc lối trong mê cung nghề nghiệp do chính bạn tạo ra.

2. Vai trò của năng lực tự học, năng lực giao tiếp và định hướng nghề

nghiệp

- Vai trò của năng lực tự học:

Có phương pháp tự học tốt sẽ đem lại kết quả học tập cao hơn. Khi học sinh

biết cách tự học, họ sẽ có ý thức và xây dựng thời gian tự học, tự nghiên cứu giáo

trình, tài liệu, gắn lí thuyết với thực hành, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng

tạo, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo.

Tự học của học sinh trung học phổ thông còn có vai trò quan trọng đối với

yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường

phổ thông. Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học sẽ

phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học trong việc lĩnh

hội tri thức khoa học. Vì vậy, tự học chính là con đường phát triển phù hợp với quy

luật tiến hóa của nhân loại và là biện pháp sư phạm đúng đắn cần được phát huy ở

các trường phổ thông.

Theo phương châm học suốt đời thì việc “tự học” lại càng có ý nghĩa đặc

biệt đối với học sinh trung học phổ thông. Vì nếu không có khả năng và phương

pháp tự học, tự nghiên cứu thì khi lên đến các bậc học cao hơn như cao đ ng, đại

học, sau đại học,... học sinh sẽ khó thích ứng do đó khó có thể thu được một kết

quả học tập và nghiên cứu tốt. Hơn thế nữa, nếu không có khả năng tự học thì

chúng ta không thể đáp ứng được phương châm “Học suốt đời” mà Hội đồng quốc

tế về giáo dục đã đề ra vào tháng 4 năm 1996.

- Vai trò của giao tiếp với đời sống cá nhân:

Giao tiếp là điều kiện để tâm lí, nhân cách cá nhân phát triển bình thường.

Về bản chất, con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, gia nhập vào cộng

đồng, phản ánh các quan hệ xã hội, kinh nghiệm xã hội và chuyển chúng thành tài

sản của riêng mình. Trong giao tiếp nhiều phẩm chất của con người, đặc biệt là các

phẩm chất đạo đức được hình thành và phát triển. Trong quá trình tiếp xúc với

những người xung quanh, chúng ta nhận thức được các phẩm chất đạo đức, thẩm

m , pháp luật, tồn tại trong xã hội, tức là những nguyên tắc ứng xử: chúng ta biết

được cái gì tốt, cái gì xấu, cái gì cần làm và cái gì không nên làm từ đó thể hiện

Page 6 of 13

6/50

thái độ và hành động cho phù hợp. Những phẩm chất như khiêm tốn hay tự phụ, lễ

ph p hay h n láo..chủ yếu được hình thành qua giao tiếp.

- Vai trò của k năng giao tiếp trong hoạt động nhóm của học sinh:

Hoạt động nhóm là dùng khả năng của từng thành viên tạo nên sức mạnh tập

thể, đem lại kết quả tốt mà một cá nhân không làm được hoặc làm được nhưng tính

hiệu quả không cao. Qua hoạt động nhóm, học sinh biết giao tiếp và hợp tác với

nhau trên nhiều phương diện như: Học sinh nêu được quan điểm của mình, nghe

được quan điểm của bạn; hoạt động nhóm cho ph p một cá nhân nhỏ lẻ vượt qua

chính mình để đạt kết quả cao và k o các thành viên khác cùng tham gia hoạt động

nhóm; Học sinh nhìn và xem x t giải quyết vấn đề sâu rộng và toàn diện hơn, từ đó

kiến thức của họ sẽ trở nên sâu sắc hơn; Học sinh hào hứng hơn khi có sự đóng

góp của mình vào thành quả chung; Vốn hiểu biết, kinh nghiệm xã hội của học

sinh thêm phong phú; k năng giao tiếp, tính khách quan khoa học, tư duy phê

phán của học sinh được rèn luyện và phát triển. Từ đó học sinh cùng nhau xây

dựng nhận thức, thái độ mới trong học tập cũng như trong cuộc sống.

- Vai trò của định hướng nghề nghiệp:

Thấu suốt ý nghĩa nghề nghiệp là gì, m i cá nhân sẽ nhận thức được vai trò

lớn lao của việc định hướng nghề nghiệp. Có thể hiểu định hướng nghề nghiệp là

việc m i cá nhân vạch ra các tùy chọn nghề nghiệp trong tương lai dựa trên khả

năng, sở thích, tính cách, mức thu nhập trung bình, tỷ lệ cơ hội việc làm, điều kiện

kinh tế gia đình...

Rõ ràng định hướng nghề nghiệp cũng giống như “vẽ đường cho hươu

chạy”. Có định hướng nghề nghiệp đúng đắn sẽ giúp m i cá nhân khoanh vùng

phạm vi nghề nghiệp, từ đó đưa ra những lựa chọn phù hợp với bản thân. Đây là

bước đầu tiên, cũng là bước quan trọng nhất trên hành trình tìm kiếm, theo đuổi và

chinh phục ước mơ, sự thành công. Bên cạnh đó, việc định hướng nghề nghiệp

đúng đắn còn giúp các em sinh hạn chế các rủi ro trong tương lai như bỏ nghề, làm

trái nghề, làm nhiều nghề khác nhau hay thậm chí thất nghiệp.

Tóm lại, định hướng nghề nghiệp được xem là một trong những yếu tố quan

trọng nhất quyết định đến thành công trong tương lai. Khi có định hướng đúng đắn,

m i cá nhân sẽ phát huy khả năng của mình, tiếp cận được công việc phù hợp. Để

từ đó họ dần dần có được địa vị trong xã hội cũng như sự công nhận của mọi người

3. Tầm quan trọng của công tác chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông

Quá trình hoạt động sư phạm ở trường phổ thông được tiến hành đồng thời

cả hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục. Cả hai hoạt động này bổ sung, h trợ,

gắn bó hữu cơ với nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển trong quá trình phát triển

toàn diện của học sinh. Trong bản thân của cả hai hoạt động trên, ngoài việc hướng

dẫn học sinh lĩnh hội kiến thức khoa học một cách có hệ thống thì công tác chủ

nhiệm lớp có vai trò rất quan trọng, là cầu nối giữa hoạt động giảng dạy và hoạt

động giáo dục, góp phần rất lớn vào sự thành công trong việc giáo dục toàn diện

Page 7 of 13

7/50

cho học sinh. Học sinh THPT là lứa tuổi mà tâm sinh lí có nhiều sự thay đổi. Vì

thế, hoạt động chủ nhiệm lớp của giáo viên càng cần thiết hơn, nhằm :

+ Hình thành những kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tham gia các hoạt động tập

thể, kĩ năng tổ chức các hoạt động cùng nhau, ...; nâng cao ý thức tự chủ, tự tin,

chủ động và mạnh dạn,... để từ đó các em tham gia vào các hoạt động học tập một

cách có hiệu quả. Qua đó, phát triển năng lực tự học, giao tiếp cho m i học sinh.

+ Góp phần bồi dưỡng cho học sinh tình yêu quê hương, đất nước, người

thân, bạn bè,... Có ý thức tôn trọng và ứng xử tốt với mọi người xung quanh, sống

hoà nhã, sẵn sàng giúp đỡ người khác, tích cực tham gia vào các công việc chung ;

ý thức xây dựng môi trường sống thân thiện trong lớp học, trường học, ở gia đình

và ngoài xã hội ; ý thức chấp hành tốt những nội quy, quy định của pháp luật, các

chuẩn mực đạo đức,... khi tham gia vào các hoạt động như học tập, vui chơi, giải

trí hoặc các hoạt động xã hội khác ở bất cứ nơi nào.

+ Góp phần củng cố tri thức đã học ở trên lớp đồng thời mở rộng các tri thức

về tự nhiên, xã hội, con người,...mà bài học trên lớp chưa có điều kiện và thời gian

mở rộng. Mặc khác, thực hiện tốt công tác chủ nhiệm lớp là trong đó đã xây dựng

được một lớp học có nề nếp, có thói quen học tập tốt, phát huy được tính chủ động,

tích cực học tập của học sinh, góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học

hiện nay nhằm nâng cao chất lượng học tập của học sinh “Nề nếp là mẹ đẻ của chất

lượng”.

II. THỰC TRẠNG CỦA ĐỀ TÀI

1. Thực trạng

a) Thực trạng hiện nay về về năng tự học, giao tiếp của học sinh ở trong các

nhà trường THPT nói chung và học sinh dân tộc Đan Lai ở trường THPT Mường

Quạ nói riêng

Trong xã hội hiện đại ngày nay, với xu thế hội nhập quốc tế, năng lực tự học

và giao tiếp có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển và thành công của m i

người. Tuy nhiên, những năng lực nêu trên đang là vấn đề đáng lo ngại của giới trẻ

hiện nay nói chung và học sinh nói riêng đặc biệt là học sinh miền núi, vùng có

con em của đồng bào các dân tộc thiểu số. Nếu như ở các trung tâm thành phố hay

các huyện đồng bằng miền xuôi, học sinh tự tìm hiểu và trình bày một chủ đề trong

buổi ngoại khóa bằng nhiều ngoại ngữ là một việc hết sức bình thường thì ở miền

núi, nếu làm được điều đó được xem là một hiện tượng. Thực tế trong các trường

phổ thông ở các huyện miền núi hiện nay, mặc dù các hoạt động giáo dục hướng

tới phát triển các năng lực được đẩy mạnh, tuy nhiên do ảnh hưởng của nhiều yếu

tố nên k năng sống nói chung và năng lực tự học, giao tiếp của học sinh còn nhiều

hạn chế. Đối với học sinh dân tộc Đan lai, điều này lại khó khăn hơn rất nhiều so

với các em học sinh khác. Trong giao tiếp với những người xung quanh, các em rụt

rè, thiếu tự tin, thiếu câu thưa gửi, thiếu lời cảm ơn. Các em không biết xưng hô

với người trên, dưới sao cho phải lẽ, dẫn đến xảy ra mâu thuẫn trong mối quan hệ

Page 8 of 13

8/50

bạn bè, làm bạo lực học đường gia tăng. Trong học tập, các em khó khăn trong

việc tự học, không biết tìm kiếm thông tin, khai thác tài liệu, không biết trao đổi,

chia sẻ để cùng hợp tác làm việc. Từ những hạn chế nêu trên là một trong những

nguyên nhân làm ảnh hưởng đến kết quả học tập của các em.

b) Kết quả khảo sát thực trạng về năng lực tự học, giao tiếp và lựa chọn nghề

nghiệp của học sinh Đan Lai ở trường THPT Mường Quạ.

Qua khảo sát của nhóm tác giả, kết hợp với giáo viên chủ nhiệm của các lớp

12B, 12C, 12D, 11A, 11B, 11D, 10A,10C với phiếu khảo sát, đánh giá ở phụ lục

1a, 1b, 1c và phụ lục 4 đã thu được kết quả như sau:

Bảng 1. Kết quả khảo sát, đánh giá năng lực của học sinh Đan Lai

( Bảng chi tiết ở phụ lục 5 )

Năng lực Mức độ Tổng số HS: 14 Giới tính

Số lượng Tỉ lệ % Nam Tỉ lệ % Nữ Tỉ lệ %

Tự học

Tốt 0 0 0 0 0 0

Bình thường 9 64,2 2 14,2 7 50

Hạn chế 5 35,7 2 14,2 3 21,4

Giao

tiếp

Tốt 0 0 0 0 0 0

Bình thường 10 71,4 2 14,2 8 57,1

Giao tiếp hạn chế 4 28,5 2 14,2 2 14,2

Xếp loại

học lực

Giỏi 0 0 0 0 0 0

Khá 1 7,1 0 0 1 7,1

Trung bình 9 64,2 2 14,2 7 50

Yếu 4 28,5 2 14,2 2 14,2

Qua thống kê từ năm học 2017 – 2018 đến nay đã có 37 em học sinh Đan

Lai học tập tại trường, trong đó có 23 em đã tốt nghiệp THPT, tuy nhiên trong số

đó chưa có em nào học tiếp đi lên, mà các em chủ yếu học xong cấp 3 thì lập gia

đình.

Bảng 2. Kết quả khảo sát công tác chủ nhiệm

(Kết quả khảo sát giáo viên chủ nhiệm của các trường THPT Mường Quạ, THPT

Con Cuông, THPT Tương Dương 2 - Phiếu khảo sát ở Phụ lục 2)

Đối với tiết

sinh hoạt lớp,

GVCN

Rất quan tâm Quan tâm Không quan tâm

42/60 = 70% 18/60 = 30% 0%

Đối với hoạt

động NGLL

Rất quan tâm Quan tâm Đã có Đoàn trường,

GVCN không phải

làm

28/60 = 46,7% 17/60 = 28,3% 15/60 = 25%

Page 9 of 13

9/50

Nội dung sinh

hoạt lớp

Chú trọng đánh giá

nhận x t, xử lí vi

phạm, triển khai kế

hoạch

Đánh giá, nhận x t,

triển khai kế hoạch

nhưng chú trọng giáo

dục k năng sống cho

học sinh

Tùy thuộc vào kế

hoạch nhà trường

mà triển khai nội

dung sinh hoạt

48/60 = 80% 7/60 = 11,7% 5/60 = 8,3%

2. Nguyên nhân

a) Do ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông thông minh

Thời đại công nghệ 4.0 mang đến cho con người chúng ta sự tiện lợi trong công

việc và trong đời sống. Nhờ có các phương tiện thông minh mà chúng ta trao đổi

và nhận thông tin một cách nhanh chóng, tiết kiệm được cả về thời gian và tiền

bạc. Nhưng mặt trái của nó cũng tác động không nhỏ tới con người, nhất là học

sinh. Với đặc điểm tâm lí lứa tuổi là thích khám phá, nhiều em học sinh đã lạm

dụng quá mức việc sử dụng điện thoại vào những việc ngoài học tập như chơi

game, xem các video clip, lướt facebook, chát zalo, messenger...nhiều em đã rơi

vào trạng thái nghiện điện thoại, lơ là việc học tập, không thích giao tiếp với người

xung quanh, thậm chí đã có trường hợp bị trầm cảm hoặc mất cân bằng về tâm sinh

lí.

b) Sự thiếu quan tâm của các bậc phụ huynh tới con em

Học sinh miền núi Nghệ An, phần lớn bố mẹ làm nông nghiệp, buôn bán hoặc

là công nhân của các công ty, xí nghiệp. Cuộc sống mưu sinh nên các bậc phụ

huynh chủ yếu đi làm xa nhà, để các em ở nhà với ông bà hoặc tự ở nhà, tự lo, tự

chăm sóc bản thân. Cuộc sống hàng ngày của các em thiếu đi sinh hoạt truyền

thống của gia đình, như cùng ngồi ăn cơm, cùng ngồi xem tivi nói chuyện, gia đình

sum họp sau moi buổi chiều xuống. Thiếu đi những lời dạy bảo của cha mẹ về đối

nhân xử thế, về ứng xử hàng ngày với những người xung quanh và đặc biệt thiếu đi

sự chăm lo cho con học tập. Thay vào đó các em lại học trên mạng xã hội những

cử chỉ, hành động, những lời nói của những “anh hùng” ảo như Khá Bảnh, Huấn

Hoa Hồng... thiếu sự giám sát và định hướng của phụ huynh.

c) Đặc điểm về địa lí, dân tộc cũng ảnh hưởng không nhỏ tới năng lực tự

học, giao tiếp và lựa chọn nghề nghiệp

Với đặc thù của đồng bào dân tộc Đan Lai là sinh sống ở vùng lõi của vườn

quốc gia Pù Mát ( Bản Búng, bản Cò Phạt xã Môn Sơn, huyện Con Cuông, Nghệ

An) cách trung tâm xã từ 20 km đến 30 km, giao thông đi lại rất khó khăn, chủ yếu

là đi bộ. Với phong tục và văn hóa của đồng bào nơi đây họ sinh sống kh p kín, ít

giao lưu với các vùng miền và cộng đồng khác. Đời sống kinh tế còn hết sức khó

khăn, văn hóa còn lạc hậu. Nhận thức về việc học của phụ huynh còn nhiều hạn

chế, dẫn đến con cái (học sinh Đan Lai) cũng nhác học, tham gia các hoạt động

giáo dục mang tính đối phó, trong suy nghĩ của các em lúc nào cũng chỉ “Bỏ học

Page 10 of 13

10/50

lấy vợ, lấy chồng”, vì thế lớp trẻ nơi đây lấy vợ, lấy chồng rất sớm từ khi 12, 13

tuổi. Cuộc sống cứ luẩn quẩn, nghèo đói quanh năm, chi phí sinh hoạt chủ yếu nhờ

vào sự trợ cấp của nhà nước.

d) Trong công tác chủ nhiệm, nhiều giáo viên chưa quan tâm đầu tư trong

công tác giáo dục học sinh rèn luyện, phát triển năng lực tự học và giao tiếp.

Theo số liệu khảo sát 60 giáo viên chủ nhiệm của các trường THPT Mường

Quạ, THPT Con Cuông, THPT Tương Dương 2 thấy rằng GVCN rất quan tâm đến

lớp chủ nhiệm, tuy nhiên trong các tiết sinh hoạt lớp, chủ yếu giáo viên đánh giá,

nhận x t, xử lí vi phạm và triển khai kế hoạch, học sinh chỉ lắng nghe và thực hiện

theo yêu cầu của giáo viên. Điều này cho thấy, sự quan tâm của giáo viên chủ

nhiệm ở các trường Miền núi Nghệ An đối với các hoạt động giáo dục k năng

sống, phát triển năng lực của học sinh chưa được quan tâm và đầu tư đúng mức về

cả nội dung, cách thức và thời gian tổ chức.

III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC, GIAO

TIẾP CHO HỌC SINH DÂN TỘC ĐAN LAI THÔNG QUA CÔNG TÁC

CHỦ NHIỆM

1. Phát triển năng lực tự học của học sinh Đan Lai thông qua công tác

chủ nhiệm

a) Mục tiêu

- Giúp học sinh nhận thức đúng đắn về tự học và sự cần thiết, lợi ích của

việc tự học.

- Giúp học sinh biết lựa chọn phương pháp tự học mang lại hiệu quả.

b) Các giải pháp thực hiện

Giải pháp 1: Giúp học sinh nhận thức đúng đắn về tự học và sự cần

thiết, lợi ích của việc tự học

Vào đầu năm học, thông qua việc khảo sát chúng tôi nhận thấy nhiều em học

sinh trong lớp, nhất là các em người Đan Lai chưa biết cách tự học nguyên nhân

một phần là do các em chưa biết thế nào là tự học, chưa thấy được tự học sẽ là con

đường quan trọng nhất để các em cải thiện năng lực và kết quả học tập của bản

thân. Do đó với vai trò vừa là giáo viên chủ nhiệm, vừa là giáo viên giảng dạy bộ

môn tại các lớp, ... chúng tôi đã từng bước giúp các em có nhận thức đúng đắn về

lợi ích của tự học, về phương pháp tự học thế nào cho hiệu quả nhất.

Cụ thể, với vai trò giáo viên chủ nhiệm, thông qua các tiết sinh hoạt đầu giờ,

đầu tuần và cuối tuần, ngoài việc giám sát việc thực hiện nề nếp, dành thời gian

kiểm tra việc chuẩn bị bài, ghi bài của học sinh. Mục đích của việc làm này là

nhằm kịp thời phát hiện những khó khăn trong học tập của HS. Một HS gặp khó

khăn trong học tập thường là do các em chưa biết cách học, kết quả học tập càng

ngày càng k m dẫn đến việc chán nản và lâu dần em đó sẽ không muốn cố gắng

Page 11 of 13

11/50

nữa. Vì thế thường xuyên nắm rõ việc chuẩn bị bài của từng em là rất quan trọng

đối với một GV. Qua quá trình này GV sẽ nắm bắt được ý thức tự học của từng em

để từ đó có biện pháp ho trợ kịp thời và hợp lí. Thông qua trò chuyện, hướng dẫn,

noi gương ngay trong lớp, GV cần giúp các em nhận thức được được điều quan

trọng sau đây:

- Ngoài việc học trên lớp dưới sự hướng dẫn của GV, các em cần dành một

khoảng thời gian nhất định để tự học. Việc tự học có thể ở nhà, ở trường, trong các

hoạt động tập thể, vui chơi, mọi lúc mọi nơi;

- Tự học giúp các em chủ động trong việc tìm kiếm, tiếp thu được nhiều kiến

thức bổ ích và có thể tự rút ra được những bài học cho riêng mình. Tự học giúp

chúng ta ghi nhớ kiến thức lâu hơn. Tự học còn giúp chúng ta rèn luyện tính kiên

trì vì nó một quá trình dài đòi hỏi con người phải thật cô gắng mới cho kết quả tốt

như mong muốn.

- Tự học chính là chìa khóa tốt nhất để giải quyết mâu thuẫn giữa khối lượng

kiến thức đồ sộ của các môn học với qu thời gian không nhiều khi học ở nhà

trường.

- Trong thời đại 4.0 hiện nay với sự phát triển như vũ bão của CNTT các em

phải tự học nếu không muốn bị bỏ lại phía sau.

- Trong thời kỳ dịch bệnh đang diễn biến phức tạp thì các em càng phải tăng

cường tự học mới thích ứng được với các thay đổi của cuộc sống, nhất là thay đổi

về hình thức thi và tuyển dụng việc làm sau này.

Đây đều là những lợi ích quan trọng và thiết thực mà tự học mang lại cho

người học nói chung và nhất là đối với HS nhưng không phải HS nào cũng nhận

thức được. Đặc biệt với các em người dân tộc Đan Lai, do điều kiện sống, do

phong tục tập quán, do thói quen sinh hoạt quen với lối “cầm tay chỉ việc” nên

việc tự học còn nhiều hạn chế. Vì vậy giúp các em nhận thấy rõ vai trò, lợi ích của

tự học là việc làm đầu tiên và quan trọng.Bởi “tư duy dẫn lối hành động”, có nhận

thức đúng thì mới có thể dẫn đến hành động có ý nghĩa.

Giải pháp 2: Hướng dẫn học sinh cách nghe giảng và ghi chép bài trên

lớp.

Nghe giảng và ghi ch p bài trên lớp là tiền đề quan trọng cho việc tự học của

HS. Nếu các em chú ý nghe giảng và ghi ch p bài cẩn thận, khoa học thì việc tự

học khắc sâu kiến thức, tìm kiếm kiến thức bổ sung sẽ diễn ra dễ dàng và đạt hiệu

quả cao. Tuy nhiên, một thực tế cho thấy, HS trường chúng tôi nói chung và các

em HS người Đan Lai ở trong trường nói riêng thường nghe giảng không tập trung,

không no lực nghe, nghe giảng một cách “bì bõm” câu được câu mất, chỉ nghe một

phần nội dung bài học, không chú ý đến toàn bộ bài giảng, có nhiều em giả vờ

chăm chú nghe giảng, gật gù theo những ý kiến thầy cô đưa ra, nhưng tâm trí lại

đang lơ lửng tận đâu đâu. Ngoài ra có thể thấy do bài học có quá nhiều thông tin

đến cùng một lúc, HS không nghe hết được dẫn đến việc không biết nghe cái nào,

Page 12 of 13

12/50

bỏ cái nào. Các em lúng túng trong việc chọn lọc thông tin, mãi loay hoay xử lý

một thông tin nào đó bạn dẫn đến để lỡ bài học, mất tập trung hơn và chỉ nghe

được một phần nhỏ những gì thầy cô dạy.Tuổi học trò mộng mơ với bao nhiêu

điều cần quan tâm, có những mối bận tâm, ưu tư theo các em vào lớp học và việc

không tập trung nghe thầy cô giáo giảng bài là điều khó tránh khỏi.Lớp học ồn ào,

những hoạt động ngoài sân, đôi khi một đám mây bay qua, một chú chim chao bên

cửa sổ cũng làm các em mất tập trung, không kịp quay về với bài học trong lớp.

Để giúp các em HS người Đan Lai nghe giảng hiệu quả chúng tôi đã từng bước

hướng dẫn các em các bước cụ thể như sau:

- Đọc lướt nội dung bài học: Trước khi đến lớp, các em có bước chuẩn bị bài

ở nhà. Bên cạnh việc giải bài tập, học bài cũ, bạn cần đọc qua nội dung bài học của

ngày hôm sau. Thao tác này giúp em định hình được nội dung kiến thức sẽ học, khi

lên lớp những điều thầy cô giảng không hoàn toàn mới mẻ với em.

- Chuẩn bị câu hỏi không hiểu: Khi đọc nội dung bài học, em nên ghi chú

những nội dung quan trọng, những câu hỏi, những vấn đề chưa hiểu; hoặc có cách

lý giải khác về bài học để đến lớp đặt câu hỏi nhờ thầy cô giáo giải đáp.

- Đòi hỏi trước tiên trong việc nghe giảng trên lớp đó là các em phải thật sự

nghiêm túc và tập trung.Đế nghe giảng một cách có hiệu quả, HS không phải chỉ

ngồi nghe chăm chú, ghi toàn bộ những lời thầy cô giáo nói vào vở là đã nghe hiệu

quả.Đó là một quá trình cần có những k năng nhất định, cần phải luyện tập

thường xuyên để có một thói quen nghe giảng tốt nhất.

- Gác tất cả các việc khác lại: Việc trước tiên cần làm là gác hết những việc

không liên quan đến bài học hiện tại lại. Làm việc riêng, nghĩ ngợi những việc

không liên quan đến bài học làm đầu óc của các em phân tâm, nghe giảng mà như

đang “phục kích” bài học, giả vờ là mình đang học tập chăm chú.

- No lực và tập trung: No lực và tập trung thể hiện thái độ và trách nhiệm

của mình với bài học. Khi có một nguyên nhân nào đó khiến em mất tập trung, hãy

no lực dừng những suy nghĩ ngoài luồng đó lại và k o sự chú ý của bản thân vào

bài học trở lại một cách nhanh nhất có thể.Việc tập trung sẽ giúp em giải quyết

những vấn đề của bài học nhanh chóng hơn rất nhiều.

- Phản hồi : Các em nên phản hồi với thầy cô giáo về những thông tin mình

tiếp nhận để thầy cô giáo biết rằng học sinh của mình đã tiếp nhận được những

thông tin bài học. Phẩn hồi cũng thể hiện thái độ tôn trọng của bạn dành cho thầy

cô giáo của mình.

- Hỏi để hiểu rõ vấn đề: Ông bà mình có câu: “Muốn biết phải hỏi, muốn

giỏi phải học”. Các em đừng ngần ngại hỏi thầy cô giáo khi mình gặp phải những

vấn đề không hiểu lúc nghe giảng. Thầy cô giáo rất sẵn sàng lắng nghe và giúp em

giải quyết vấn đề của mình. Đừng ngần ngại khi đặt câu hỏi!

Page 13 of 13

13/50